Thủ phạm gây viêm gan nhiễm độc (VGNĐ)

17:45

 

Ngộ độc thuốc

Có khoảng hơn 900 thuốc gây VGNĐ, bảng dưới đây cho biết đặc điểm của một số thuốc thường gặp gây VGNĐ.

Ảnh minh họa

Một số nguy cơ của các thuốc được liệt kê trong bảng sau:

Thuốc

Thời gian tiềm tàng

Đặc điểm thương tổn

Khánh sinh
 

Clavulanate

Ngắn tới trung bìnhTổn thương tắc mật, có thể tổn thương tế bào gan; Tổn thương thường gặp sau khi đã ngừng thuốc
IsoniazidTrung bình tới dàiTổn thương tế bào gan cấp tương tự viêm gan virus cấp
Trimethoprim/ sulfamethoxazoleNgắn tới trung bìnhTổn thương tắc mật, có thể tổn thương tế bào gan; thường kèm theo đặc điểm miễn dịch dị ứng (sốt, ban, tăng bạch cầu ưa acid)
FluoroquinolonesNgắnThay đổi: tổn thương tế bào gan, tắc mật hoặc hỗn hợp (tỷ lệ tương đương)
MacrolidesNgắnTổn thương tế bào gan, có thể tổn thương tắc mật
Nitrofurantoin
Thể cấp (hiếm gặp)NgắnTổn thương tế bào gan
Thể mạnVừa tới dài (Hàng tháng tới hàng năm)Tổn thương tế bào gan điển hình; thường giống với viêm gan tự miễn tự phát
MinocyclineVừa tới dàiTổn thương tế bào gan và thường giống viêm gan tự miễn
Thuốc chống động kinh
PhenytoinNgắn tới trung bìnhTổn thương tế bào gan, hoặc tắc mật thường kèm theo đặc điểm miễn dịch dị ứng (sốt, ban, tăng bạch cầu ưa acid) (Hội chứng tăng nhạy cảm thuốc chống co giật)
CarbamazepineTrung bìnhTổn thương tế bào gan, hỗn hợp hoặc tắc mật thường kèm theo đặc điểm miễn dịch dị ứng (sốt, ban, tăng bạch cầu ưa acid) (Hội chứng tăng nhạy cảm thuốc chống co giật)
LamotrigineTrung bìnhTổn thương tế bào gan với đặc điểm miễn dịch dị ứng (sốt, ban, tăng bạch cầu ưa acid) (Hội chứng tăng nhạy cảm thuốc chống co giật)
Valproate
Tăng amoniac máuTrung bình tới dàiTăng ammoniac máu, bệnh não
Tăng amoniac máuTrung bình tới dàiTổn thương tế bào gan
Tăng amoniac máuTrung bìnhTổn thương tế bào gan, toan máu, thoái hóa mỡ túi nhỏ
Thuốc giảm đau
Chống viêm không steroidTrung bình tới dàiTổn thương tế bào gan
Thuốc điều hòa miễn dịch
Thuốc kháng TNFTrung bình tới dàiTổn thương tế bào gan, có thể có đặc điểm viêm gan tự miễn
AzathioprineTrung bình tới dàiTổn thương tắc mật, tổn thương tế bào gan, có thể biểu hiện tăng áp lực tĩnh mạch cửa (bệnh tắc tĩnh mạch, tăng sản tái sinh nốt)
Thảo dược và thực phẩm chức năng
Dịch chiết trà xanh (catechin)Ngắn tới trung bìnhTổn thương tế bào gan
Steroid đồng hóaTrung bình tới dàiTổn thương tắc mật
Pyrrolizidne alkaloidTrung bình tới dàiHội chứng tắc nghẽn xoang (Sinusoidal obstruction syndrome)
FlavocoxibNgắn tới trung bìnhTổn thương tế bào gan hỗn hợp hoặc tắc mật
Hỗn hợp
Methotrexate (uống)Kéo dàiGan nhiễm mỡ, xơ hóa
AllopurinolNgắn tới trung bìnhTổn thương tế bào gan hoặc hỗn hợp, thường có đặc điểm dị ứng miễn dịch. Granulomas often present on biopsy
Amiodarone (uống)Trung bình tới dàiTổn thương tế bào gan, hỗn hợp hoặc tắc mật. Gan thoái hóa mỡ túi lớn (Macrovesicular steatosis) và viêm gan nhiễm mỡ (Steatohepatitis)
Androgen-containing steroidsTrung bình tới dàiTổn thương tắc mật; tăng sản dạng nốt hoặc ung thư tế bào biểu mô gan
Thuốc mê dạng hítNgắnTổn thương tế bào gan. Có thể có đặc điểm dị ứng miễn dịch ± sốt
SulfasalazineNgắn tới trung bìnhHỗn hợp, tổn thương tế bào gan hoặc tắc mật. Thường có đặc điểm dị ứng miễn dịch
Ức chế bơm protonNgắnTổn thương tế bào gan; rất hiếm gặp
Ngắn: 3-30 ngày; trung bình: 30-90 ngày; dài: > 90 ngày.

 

(1) Paracetamol

Ngộ độc paracetamol vẫn là nguyên nhân gây VGNĐ hàng đầu, chiếm khoảng 40% các ca suy gan cấp ở Mỹ. Paracetamol khá an toàn ở liều điều trị (3-4 g/ngày), nhưng có thể gây nên VGNĐ khi tăng liều. Liều thấp nhất gây độc là 7,5 – 10 g/ngày, tổn thương gan nặng khi uống 15-25 g/ngày. Nồng độ paracetamol máu sau uống 4-16 giờ được coi là chỉ dấu tiên lượng tốt nhất.

 

(2) Kháng sinh

Hầu hết kháng sinh gây VGNĐ thường do cơ chế đặc ứng, thông qua phản ứng miễn dịch với chất chuyển hóa gây độc cho gan. Tỷ lệ gây viêm gan nhiễm được thường gặp trên lâm sàng với các kháng sinh clavulanate, coximoxazole cũng như flcloxacillin; tỷ lệ thấp hơn với nhóm macrolide, tetracycline và floroquinolone. Nhóm thuốc chống lao thường gặp nhưng biểu hiện đa dạng từ mức độ tăng men gan không triệu chứng lâm sàng tới suy gan cấp nặng.

 

(3) Thuốc YHCT và thực phẩm chức năng

– Các bài thuốc có thể pha thêm nhiều loại khác như kim loại nặng (chì, asen), acetaminophen, aspirin, steroid…

– Ma hoàng là vị thuốc nam được nhắc tới nhiều có khả năng gây nhiễm độc gan, ngoài ra còn nhiều các alkaloid chưa được nghiên cứu đầy đủ như pyrolizidine, teucrium, atractylis, viscum, methysticum.

 

(4) Các thuốc khác

Có rất nhiều loại thuốc gây ra viêm gan nhiễm độc: thuốc điều trị lao, thuốc chống viêm không steroid, thuốc chống động kinh…

 

Hoá chất

Các hoá chất ngoại sinh chuyển hoá ở gan qua nhiều giai đoạn kết quả hình thành nên các gốc tự do có hoạt tính cao và là một trong những nguyên nhân gây tổn thương tế bào gan: Paraquat là hoá chất diệt cỏ gây tổn thương gan, rất thường gặp ở TTCĐ. Paraquat gây độc cho cơ thể chủ yếu qua đường ống tiêu hóa. Khi bị ngộ độc các triệu chứng sớm xuất hiện tại hệ tiêu hoá như đau bụng, loét miệng họng, thực quản. Tổn thương gan tuỳ thuộc mức độ nhiễm độc, nặng có biểu hiện gan to, vàng da kèm theo các triệu chứng suy sụp tế bào gan dẫn tới suy gan cấp. Tuy nhiên, nguyên nhân trực tiếp gây tử vong là do xơ hóa phổi không hồi phục.

– Các hóa chất dùng trong công nghiệp, tiêu dùng cũng gây VGNĐ: nhóm flor, chlor hoặc halogen gây hoại tử tế bào gan, thoái hóa mỡ trong gan.

 

Độc tố tự nhiên

(1) Nấm độc amatoxin

Độc tố amatoxins tìm thấy trong các loài: Amanita, Galerina, Lepiota. Độc tố này gồm 4 loại: Alpha, beta, gamma, epsilon. Alpha, beta, gamma là những chất độc chính gây tử vong ở người. Ở Việt Nam thường gặp hai loài: Amanita Virosa và Amanita Verna gây nên các vụ ngộ độc gây chết nhiều người ở đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc.

Cơ chế gây độc: Amatoxin khi vào cơ thể nhanh chóng gắn vào men ARN polymerase II ức chế mARN không hồi phục, dẫn đến giảm tổng hợp Protein và gây chết tế bào. Cơ quan đích chính là màng nhày ruột, tế bào gan và ống lượn gần của thận. Ngoài cơ chế tổn thương trực tiếp tế bào gan, alpha amatoxin còn kết hợp với các cytokine gây tổn thương tế bào theo kiểu chết có chương trình.

(2) Vi nấm chứa ochratoxin A

Ochratoxin A là độc tố vi nấm từ các loài nấm Aspergillus, ngộ độc có thể dẫn tới suy gan tối cấp, tử vong trong vòng vài ngày, thường gặp trong vụ dịch, đặc biệt ở đồng bào dân tộc ở vùng núi phía Bắc Việt Nam do ăn gạo, ngô có chứa nấm mốc.   Hiểu biết về cơ chế bệnh sinh và những tiến bộ trong điều trị đã tạo nên những thành công vượt bậc trong kiểm soát và điều trị ngộ độc loại này.

(3) Ong đốt

Thành phần của nọc ong: Các amin sinh học, phospholipase A, phospholipase B, hyaluronidase, antigen 5 acid phosphatase (đều có bản chất là protein), peptid gây tan tế bào mast, kinin.

Các tác dụng sinh học của nọc ong: Gây đau tại chỗ. Trực tiếp gây tan máu, thí nghiệm trên thỏ thấy nó gây ngưng kết tiểu cầu. Có đặc tính gây hoạt hoá bề mặt tế bào mast và liên quan đến vai trò gây tan máu của nó. Làm giảm cholesterol và lipid máu. Tác dụng độc lên thần kinh, chủ yếu lên chức năng tuỷ sống gây ra các biểu hiện tăng kích thích, co cơ, co giật. Tác động lên gan: hoại tử trung tâm tiểu thuỳ gan và viêm các ống mật ngoại vi, có thể do tác dụng trực tiếp của nọc ong.

(4) Các độc tố tự nhiên khác: mật cá, mật động vật khác, catharidin trong sâu ban miêu…

Theo SKCĐ

Leave a Reply

Be the First to Comment!

avatar
  Subscribe  
Notify of