Những điều cần biết về xơ gan

15:31

Năm 1819, Laennec là người đầu tiên sử dụng từ xơ gan để mô tả hình thái rất đặc biệt của lá gan một người lính trong quân đội của Dumourier. Trong lúc mổ xác chết người lính này, gan teo cứng và có màu hung hung hay đỏ hoe.

Ngày nay, xơ gan để mô tả quá trình liên quan đến toàn thể lá gan một cách lan tỏa, do đó định nghĩa xơ gan phải dựa trên cơ sở mô học. Đặc điểm của xơ gan là đồng hiện diện của sự xơ hóa và của các u cục (nodule), là hậu quả của hoại tử kéo dài và fibrose lập đi lập lại của tế bào gan. Xơ hóa được xem như là một sản phẩm của tiêu hủy tế bào gan và các u cục xuất xứ từ xây dựng lại ngay trong lòng các vị trí xơ hóa này, cuối cùng hình thành những đám tế bào gan cấu trúc bất thường gọi là tái tạo.

Khi xuất hiện xơ hóa mà không kèm u tái tạo, trong trường hợp xơ hóa bẩm sinh, thì không gọi là xơ gan. Đồng thời, có u cục gan mà không kèm theo xơ hóa thì cũng không được là xơ gan.

Ngoài xơ gan do rượu và viêm gan chiếm tần suất cao, còn một số nguyên nhân khác như:

– Xơ gan ứ mật nguyên phát và thứ phát;

– Xơ gan do thuốc;

– Xơ gan và một số bệnh di truyền: bệnh ứ sắt vô căn có tính gia đình, bệnh Wilson và một số bệnh do rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh và trẻ em;

– Xơ gan do nghẽn tuần hoàn trên gan: gan tim (hiếm), hội chứng Budd Chiari, các bệnh nghẽn tim mạch;

– Xơ gan do ký sinh trùng Schistosomiase;

– Xơ gan do các bệnh u hạt;

– Xơ gan vô căn.

Các thể bệnh học của xơ gan

Hình thái đại thể của xơ gan

Gan có kích thước to nhỏ khác nhau tùy thuộc vào ưu thế của hiện tượng phá hủy hay tái tạo: gan nhỏ được gọi là xơ gan thể teo; gan to – thể phì đại. Đôi khi trong một gan xơ, cùng có một vùng gan xơ thể teo nằm trong một vùng gan xơ thể phì đại. Trường hợp này gọi là xơ gan thể teo – phì đại.

Trường phái Pháp gọi xơ gan thể teo là xơ gan Laennec, trong khi ở Mỹ người ta gọi xơ gan bất kỳ kích thước to nhỏ của gan.

Bề mặt gan xuất hiện các u cục dưới dạng các nốt nhỏ (kích thước <3mm) và nốt lớn (>3mm) và xơ gan được gọi là xơ gan nốt nhỏ hoặc nốt lớn căn cứ vào kích thước các u cục hay nốt. Cũng có trường hợp xơ gan hỗn hợp vừa có nốt nhỏ đồng thời có nốt lớn. Trước kia người ta dựa vào vẻ đại thể quan sát các nốt đầu đinh trên bề mặt gan để phân biệt xơ gan do rượu hoặc sau viêm gan. Ngày nay, người ta nhận xét rằng các nốt đầu đinh loại lớn (>3mm) giống hệt nhau trên cả hai loại xơ gan.

Mô học của xơ gan

Gan xơ ở nhiều mức độ khác nhau, đôi khi khu trú trong phạm vi hẹp, ngược lại cũng có trường hợp gan xơ với tầm vóc quan trọng. Thông thường, mô xơ bao quanh các u cục tế bào gan bố trí thành một vòng tròn kín. Sự phân định khác nhau giữa các u cục lớn và nhỏ dựa vào hình thái mô học, u cục nhỏ không có tĩnh mạch trung thùy. Ngược lại, có tĩnh mạch trung thùy, kể cả các khoảng cửa trong lòng các u cục lớn; và trường hợp có thể xảy ra khi sinh thiết mẫu gan nhỏ, phát hiện đầy đủ các yếu tố trên trong một cục có kích thước lớn, người ta ngỡ rằng gan có cấu trúc hoàn toàn bình thường.

Ngoài ra, người ta cũng phát hiện có các tổn thương viêm mà hình thái và sự phong phú tùy thuộc vào nguyên nhân và nhất là mức độ phát triển của xơ gan. Các tế bào viêm đôi khi được bao gồm trong mô xơ, trong đó đôi khi tìm thấy các mật quản tăng sinh. Tuy nhiên cũng có trường hợp hoàn toàn không tìm thấy các tổn thương tế bào gan và các thành phần của hiện tượng viêm này.

Một khi gan đã bị xơ thì không có thể phục hồi như gan bình thường. Việc điều trị bệnh xơ gan chủ yếu là loại bỏ các yếu tố gây hại cho gan như rượu và một số hóa chất gây độc hại cho gan. Duy trì bồi dưỡng chức năng gan. Điều trị xơ gan chỉ đạt hiệu quả cao khi được phát hiện sớm, vì vậy nếu phát hiện mình bị viêm gan mãn tính cần phòng ngay để gan không bị xơ.

Theo SKCĐ

Leave a Reply

Be the First to Comment!

avatar
  Subscribe  
Notify of